Cụ thể, đây là hiện vật gốc độc bản; là hiện vật có hình thức độc đáo, một tác phẩm nghệ thuật có giá | Quà tặng trống đồng

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "DUCTUONGDONG.VANPHONGAOSAIGON.COM", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Quà tặng trống đồng: 0984 246 198

Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ. Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháo vát. Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các thế là ra đời áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước.

Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáo và ngũ hành theo triết học Đông phương.



Áo dài thời nhà Nguyễn

Bước sang thời nhà Nguyễn, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Trước làn sóng “nhập cư” của hàng vạn người Minh Hương, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong thi hành. Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam như sau: “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép ...” (Trích từ sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên).

Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn viết: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy”. Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765).

Bước đột phá táo bạo, góp phần hình thành kiểu dáng của áo dài ngày nay chính là kiểu áo dài “Le Mur” do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939. Khác với phom rộng truyền thống, áo dài Le Mur ôm sát đường cong cơ thể với nhiều chi tiết Âu hóa như tay phồng, cổ khoét hình trái tim, đinh nơ… Chiếc áo “lai căng” này bị dư luận thời đó lên án mạnh mẽ, cho là không đứng đắn nên chỉ có giới nghệ sĩ phong cách tân thời mới dám mặc. Đến năm 1943 thì kiểu áo này dần bị lãng quên.



Những năm 1960, nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn đã đưa cách ráp tay raglan vào áo dài. Với cách ráp này, tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách. Tà trước nối với tà sau qua hàng nút bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên hông. Kiểu ráp này vừa giảm thiểu nếp nhăn ở nách, cho phép tà áo ôm khít theo đường cong người mặc, vừa giúp người phụ nữ cử động tay thoải mái, linh hoạt. Từ đây, chiếc áo dài Việt Nam đã được định hình.

Áo dài trên “đấu trường” nhan sắc quốc tế

Đầu những năm 1960, bà Trần Lệ Xuân, vợ của ông Ngô Đình Nhu, đã thiết kế ra kiểu áo dài hở cổ, bỏ đi phần cổ áo, hay còn gọi là cổ thuyền, cổ khoét. Chiếc áo dài nổi tiếng với tên gọi áo dài Bà Nhu đã vấp phải phản ứng mạnh mẽ vì đi ngược với truyền thống và thuần phong mỹ tục của xã hội thời đó. Ngày nay, áo dài cổ thuyền rất được ưa chuộng vì sự thoải mái, phù hợp với khí hậu nhiệt đới của nó.

Những năm 1960, áo dài chít eo thách thức quan điểm truyền thống trở thành kiểu dáng thời thượng. Lúc này, chiếc áo nịt ngực tiện lợi đã được sử dụng rãi. Phụ nữ thành thị với tư duy cởi mở muốn tôn lên những đường cong cơ thể qua kiểu áo dài chít eo rất chặt để tôn ngực.



Gần cuối thập kỷ 60, áo dài mini trở nên thịnh hành trong giới nữ sinh vì sự thoải mái, tiện lợi của nó. Tà áo hẹp và ngắn đến gần đầu gối, áo rộng và không chít eo nhưng vẫn may theo đường cong cơ thể.

Sau những năm 1970, đời sống đổi mới đã khiến chiếc áo dài dần vắng bóng trên đường phố. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay, chiếc áo dài đã trở lại với nhiều kiểu dáng, chất liệu khác nhau qua các bộ sưu tập đầy sáng tạo và phá cách của các nhà thiết kế Võ Việt Chung, Sĩ Hoàng, Thuận Việt… Không chỉ dừng lại ở kiểu dáng truyền thống, chiếc áo dài đã được cải biên thành áo cưới, áo tà ngắn để mặc với quần jeans…

Áo dài xuất hiện ngày càng nhiều trong các sự kiện quan trọng của đời sống thường nhật như: đám cưới, sinh nhật, mừng thọ, hội làng... Điều đáng nói là áo dài luôn là lựa chọn hàng đầu của các người đẹp ở phần thi trang phục truyền thống khi tham gia các “đấu trường” nhan sắc trong nước và quốc tế. Những bộ áo dài truyền thống của Phạm Hương, Trần Ngọc Lan Khuê, Phạm Thúy Vân… từng gây ấn tượng rất lớn đối với bạn bè quốc tế.

Tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đang tổ chức trưng bày theo chuyên đề “Trống đồng phát hiện tại Thanh Hóa” nhằm phục vụ du khách đến tham quan trong năm Du lịch quốc gia 2015 - Thanh Hóa. Việc trưng bày cũng nhằm chào mừng kỷ niệm 50 năm Hàm Rồng chiến thắng và 40 năm ngày Giải phóng miền năm thống nhất đất nước.

Những chiếc trống đồng hàng nghìn năm tuổi

Gần 100 chiếc trống đồng có niên đại từ 2.000 - 2.500 năm được trưng bày theo chuyên đề giới thiệu đến người dân và du khách.

Với gần 100 chiếc trống đồng cổ, quý hiếm, đủ các chủng loại khác nhau có niên đại từ 2.000 - 2.500 năm được trưng bày lần này đem đến cho người xem cách nhìn toàn diện về thời kỳ phát triển đồ đồng ở nước ta. Trong đó, thời kỳ văn hóa Đông Sơn thể hiện phát triển hưng thịnh nhất của đồ đồng. Bên cạnh đó, cũng có nhiều chiếc trống đồng có từ thời phong kiến hay những chiếc trống đồng minh khí… cũng được trưng bày tại triển lãm.

Những chiếc trống đồng cổ được trưng bày chia thành nhiều loại khác nhau từ I, II, III. Trong gần 100 chiếc trống đồng đang được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đợt này, có một chiếc trống đồng Cẩm Giang là Bảo vật quốc gia. Đây là chiếc trống được xếp vào loại I - Heger thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn được phát hiện năm 1992 tại xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa).


Quà tặng trống đồng

Quà tặng trống đồng, trống đồng mỹ nghệ, trống đồng đông sơn, trống đồng việt nam, trống đồng cao cấp, quà tặng bằng đồng
- Với Chất liệu : bằng đồng vàng 100% , Đế bày gỗ tự nhiên màu cánh rán
- Kích thước : 7cm, 8cm, 9cm, 10 cm, 12 cm, 15 cm, 20 cm, 30cm...
- Sản Phẩm Trống đồng quà tặng : được chế tác thủ công tinh xảo ,chạm trổ 3D sắc nét , được sử lý một lớp keo phủ điện phân 2K chống oxi hóa, không xuống mầu sắc, đảm bảo độ sáng bóng trên 10 năm.
- Mầu sắc : mầu rêu giả cổ
- Sản phẩm trống đồng quà tặng : thích hợp làm quà tặng đối tác nước ngoài, quà tặng cơ quan, quà tặng sự kiện, hội nghị...
- Nhận đặt hàng theo yêu cầu của quý khách
Công ty seo web Sử dụng dịch vụ SEO website – Vì sao doanh nghiệp, Do đặc thù của ngành Du lịch khai thác lượng khách hàng từ nước ngoài. Tại thời điểm đó SEO web chủ yếu được thực hiện bởi các công ty nước ngoài
Lư đồng Vĩnh Tiến Bộ đỉnh đồng, lư đồng Vĩnh Tiến số 1 ngũ sự, Đại lý đồ đồng truyền thống chuyên phân phối bỏ sỉ tất cả các mặt hàng lư đồng do công ty vĩnh tiến sản xuất có đầy đủ tất cả các mặt hàng và

Tìm lại tiếng trống đồng Đông Sơn

Làng Trà Đông, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) vốn là làng nghề đúc đồng truyền thống hàng trăm năm nay. Không biết nghề có từ khi nào chỉ biết, trong làng còn có đền thờ ông tổ của nghề đúc đồng Khổng Minh Không. Thời thịnh vượng nhất của làng có tới 90% số hộ làm nghề đúc đồng. Trong nhà ngoài ngõ lúc nào cũng rộn rã tiếng đe tiếng búa. Sản phẩm của làng có mặt và nổi tiếng khắp vùng, không chỉ ở xứ Thanh mà còn theo chân các nhà buôn đi khắp mọi miền đất nước.

Âm vang tiếng trống đồng

Chỉ với cách làm thủ công truyền thống, hàng trăm chiếc trống đồng có nguồn gốc xứ Thanh đến được với khắp mọi miền trong và ngoài nước.

Tiếp chúng tôi trong căn nhà với cơ man là trống đồng, nghệ nhân Lê Văn Bảy kể lại câu cái nghề gắn với cuộc đời anh. “Gia đình tôi, cha truyền con nối làm nghề này. Bố tôi là nghệ nhân Lê Văn Du cũng nối nghề từ ông bà tôi rồi anh em tôi lớn lên lại được cha truyền lại nghề. Thời điểm anh em tôi lớn lên cũng là lúc nghề đúc đồng truyền thống của làng đi vào mai một rồi tắt hẳn. Lúc đó, đứa trẻ hơn 10 tuổi trong tôi đã biết tiếc nuối. Không còn cách nào khác, anh em tôi cũng bôn ba khắp nơi mang nghề theo để mưu sinh nhưng cũng không thoát khỏi cơn đói nghèo”.



“Một ngày, vào khoảng năm 2001, bố tôi khi ngồi xem tivi, thấy giới thiệu ở Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa trưng bày chiếc trống đồng cổ, ông đã vượt đường xa đến đó xem, nhìn kỹ thuật đúc trống tinh xảo của người xưa, cụ bèn quyết đúc một cái trống như thế. Ông nhanh chóng nhập tâm hoa văn, kiểu dáng, rồi dùng tất cả kinh nghiệm lão luyện của một người thợ già để làm khuôn, vẽ hoa, tính toán lượng đồng, cách đúc”.

“Không biết bao nhiêu lần đúc hỏng rồi phá đi đúc lại, cuối cùng bố con tôi cũng đúc thành công một chiếc trống đồng theo phương pháp thủ công truyền thống mà cả trăm năm nay thách thức bao nhiêu thế hệ thợ đúc đồng trong và ngoài nước”- anh Bảy chia sẻ.

Khoảnh khắc biết đã thành công, bố con anh lặng người, lòng rưng rưng khi biết rằng đã đến lúc làm sống dậy cái nghề truyền thống của làng đã tắt ngúm từ lâu.

Rồi anh Bảy hồ hởi khoe: “Sau những cố gắng, nỗ lực không ngừng học hỏi, rút kinh nghiệm những lần thất bại, tôi đã đúc thành công những chiếc trống đồng có thể kêu rộn rã, hoàn toàn bằng phương pháp đúc đồng thủ công truyền thống của người Đông Sơn cổ”.



Đối với nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn (TP Thanh Hóa)- Giám đốc Công ty TNHH Trống đồng Việt, cái duyên nghề đúc đồng cũng đến với anh tự nhiên như hơi thở. Từ niềm đam mê mang tên “Bảo tồn nghề đúc đồng-phục hồi văn hóa Việt”, anh Tuấn đã bỏ cả tuổi trẻ để đi tìm chiếc trống đồng Đông Sơn.

Khi mới vào nghề, anh Tuấn chỉ nghĩ mình sẽ sưu tầm các hiện vật bằng đồng chứ chưa hề có khái niệm gì về việc đúc trống đồng. Tuy nhiên, sau những lần tìm thấy đồ đồng cùng những hoa văn, họa tiết kỳ lạ của người xưa đã dấy lên trong Tuấn niềm say mê không thể dứt bỏ.

Âm vang tiếng trống đồng

Nghệ nhân Tuấn cho biết: Không những thể hiện được những hoa văn của Đông Sơn trên mặt trống mà còn phải tìm công thức để trống có thể ngân vang như tiếng trống trận, tiếng trống hiệu triệu của các thủ lĩnh Lạc Việt xưa kia.

Trong những lần trò chuyện, tôi đều thấy khát khao cháy bỏng được khám phá tận cùng nghề đúc trống đồng của cả hai nghệ nhân trẻ. Lê Văn Bảy tâm sự với tôi rằng: “Chúng tôi vẫn vừa làm vừa học lại nghề của người xưa thôi, không có cách gì khám phá hết nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn cả. Chẳng hạn, dù đã đúc ngàn sản phẩm, tôi vẫn không hiểu tại sao trên pho tượng đồng Đông Sơn cổ, có mảnh gỗ làm cốt tượng lại không bị cháy, khô nguyên trong khi đồng chảy trên ngàn độ?



Nay, với những thanh cốt đó, chúng tôi phải Học bằng thép. Tôi có thể tính ra tỉ lệ các chất trong hợp kim đồng, độ dày mỏng từ những chiếc trống đồng cổ, nhưng khi áp dụng như vậy vào sản xuất thì không thể coi là đã chuẩn mực như trống cổ. Tinh hoa ngàn năm của người xưa, không dễ gì dăm năm hay mười năm tìm hiểu mà biết hết được”.

Thổi hồn vào trống

Không những thể hiện được những hoa văn của Đông Sơn trên mặt trống, các nghệ nhân còn phải tìm công thức để trống có thể ngân vang như tiếng trống trận, tiếng trống hiệu triệu của các thủ lĩnh Lạc Việt xưa kia.

Trong hành trình gắn liền với trống đồng, có rất nhiều những lần đúc trống khiến các nghệ nhân không thể quên được. Tuy nhiên, với các anh, sự kiện được vinh dự nhận nhiệm vụ đúc 100 trống dâng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long hay đúc trống khắc họa hình ảnh Hồ Chủ tịch, trống, súng thần công dâng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, là những dấu ấn trong cuộc đời làm nghề của mình.

Vào tháng 3/2008, cơ sở của anh Tuấn được giao nhiệm vụ đúc 50/100 chiếc trống đồng để dâng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long. 49 chiếc trống nhỏ là phiên bản của trống đồng Quảng Xương và trống đồng Hoàng Hạ sẽ có cùng kích cỡ với đường kính mặt trống 60cm, chiều cao thân trống là 48cm.Trên hông trống sẽ có hình triện vuông trong đó có hình 2 con rồng, hình Khuê Văn Các và dòng chữ "Đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội”.

Riêng chiếc trống to nhất có đường kính mặt là 1m, cao 79cm có hình 1.000 con rồng – vật phẩm đặc biệt cùng 99 chiếc còn lại dâng lên Đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. 50 chiếc còn lại được Hội cổ vật và Di sản văn hóa Lam Kinh giao cho cơ sở sản xuất của nghệ nhân Thiều Quang Tùng (Đông Sơn). Điều đáng nói ở đây, 100 chiếc trống đồng phục vụ Đại lễ 1.000 năm không chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu như đẹp về hình thức, chuẩn về kỹ thuật mà còn phải thực sự là một nhạc khí. Bởi 100 chiếc trống này sẽ phục vụ cho tiết mục đánh trống đồng, mở màn Chương trình Lễ hội 1.000 năm Thăng Long–Hà Nội.

Hơn 1 năm thực hiện nhiệm vụ cao cả, đến cuối tháng 9/2009 thì 50 chiếc trống đồng dưới bàn tay của anh Tuấn cùng gần 100 công nhân đã hoàn thành. Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp đúc trống đồng của anh.

Với nghệ nhân Thiều Quang Tùng, anh không những thành công ở giàn trống đồng phục vụ Đại lễ Thăng Long mà anh còn là nghệ nhân đầu tiên của Việt Nam đúc thành công chiếc “Trống đồng khắc họa hình ảnh cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhân dịp 120 năm ngày sinh của Bác, đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập năm 2010.

Hình Ảnh